Đối tác marketing
VTV Youtube Bao Nguoi chan nuoi TH Ben Tre
BỆNH HỌC SINH THÁI (ECOPATHOLOGY) PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN TIÊN TIẾN TRONG QUẢN LÝ DỊCH BỆNH
BỆNH HỌC SINH THÁI (ECOPATHOLOGY)  PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN TIÊN TIẾN TRONG QUẢN LÝ ...
Cập nhật 2017-12-21 01:12:19

            Điều gì tạo nên sự khác biệt về năng suất, giá thành… giữa chăn nuôi ở Việt Nam và các nước phát triển khác trên thế giới? Điều gì khiến các nước có thể xuất khẩu sản phẩm động vật sang Việt Nam, còn chúng ta lại không thể xuất khẩu sang các nước khác? Đó là vì dịch bệnh ít xảy ra hơn tại các quốc gia phát triển. Vậy tại sao ở các quốc gia phát triển ít có dịch bệnh trong chăn nuôi hơn so với Việt Nam? Phải chăng là vì những nước khác sử dụng những sản phẩm thú y tốt hơn hay họ có con giống tốt hơn? Khi nhìn kỹ vào vấn đề chúng ta sẽ thấy không phải là như thế. Chỉ cần lướt sơ qua, dễ dàng nhận thấy thị trường Việt Nam có hầu hết các sản phẩm thú y chất lượng cao: vắc-xin, kháng sinh, kháng viêm, chế phẩm sinh học, enzyme, chất hấp phụ độc tố nấm… của các công ty cung cấp sản phẩm thú y nổi tiếng thế giới, chưa kể hàng Việt Nam chất lượng cao. Vậy điều gì đã làm nên sự khác biệt quá rõ ràng giữa chăn nuôi ở Việt Nam và các nước phát triển khác trên thế giới? Đó chính là phương pháp tiếp cận tiên tiến trong quản lý dịch bệnh theo nguyên tắc của bệnh học sinh thái.

 

            1. Bệnh học sinh thái: Bệnh học sinh thái là khoa học nghiên cứu về bệnh học trong mối liên hệ với tất cả các yếu tố tham gia trong quá trình chăn nuôi, ví dụ như vi sinh vật, quy trình chăn nuôi, an toàn phòng chống dịch, chuồng trại, vệ sinh chăm sóc và kể cả chủ nuôi. Quản lý dịch bệnh dựa trên bệnh học sinh thái là dựa trên việc quản lý tất cả các yếu tố liên quan nói trên, qua đó xây dựng đồng bộ các giải pháp kiểm soát dịch bệnh, phát huy tối đa hiệu quả phòng chống dịch bệnh tại trang trại.

 

            2. Phương pháp thực hiện quản lý theo bệnh học sinh thái: Mô hình quản ý dịch bệnh theo bệnh học sinh thái được minh hoạ ở dạng hình đa giác với các đỉnh là các yếu tố. Khoảng cách từ tâm của hình đa giác đến các đỉnh tương ứng với mức độ quản lý tốt, xấu của từng yếu tố và được quy đổi với thang điểm 10. Khi quản lý dịch bệnh theo bệnh học sinh thái, mổi yếu tố sẽ được đánh giá trực tiếp dựa trên tình hình tại trại, theo bảng câu hỏi và tuỳ theo mức độ sẽ được cho điểm tương ứng, qua đó sẽ có được hình minh hoạ tương đương với mức độ nguy cơ dịch bệnh xảy ra tại trại. Điểm được đánh giá càng cao, càng đồng đều giữa các yếu tố, diện tích hình càng lớn càng cân đối, nghĩa là dịch bệnh được quản lý càng tốt, dịch bệnh xảy ra càng ít, năng suất và lợi nhuận cao (Hình 1). Ngược lại, điểm được đánh giá càng thấp, càng không đồng đều giữa các yếu tố, diện tích hình sẽ càng nhỏ, càng mất cân đối, nghĩa là quản lý dịch bệnh kém, dịch bệnh xảy ra nhiều, năng suất và lợi nhuận thấp (hình 2).

 

 

 

 

            Việc đánh giá trại theo bệnh học sinh thái phải được thực hiện bởi các chuyên gia không những giỏi chuyên môn, có kinh nghiệm trong lĩnh vực chăn nuôi chuyên biệt để có thể đánh giá chính xác tình trạng thực tế của trại, mà còn phải có khả năng đưa ra các giải pháp phù hợp với thực tế đánh giá và tình hình của trại. Để tiến hành đánh giá, người đánh giá sẽ thiết lập các bảng với các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá. Tuỳ theo yếu tố được đánh giá, các chỉ tiêu sẽ được thiết lập cho phù hợp. Thông thường, mỗi yếu tố được đánh giá dựa trên 10 chỉ tiêu, tương ứng với điểm 10 cho từng yếu tố. Bài viết trình bày ví dụ về phương pháp đánh giá dịch bệnh theo bệnh học sinh thái.

 

            2.1 Vi sinh vật gây bệnh: Tuỳ theo đặc điểm dịch tễ tại khu vực, các chỉ tiêu vi sinh vật bệnh có thể thay đồi. Ví dụ như tại Việt Nam, các bệnh lý quan trọng trên heo cần được kiểm soát đó là dịch tả heo, PRRS, lở mồm long móng, Aujeszky, bệnh do PCV2, PED, Mycoplasma, Streptococcus… Trong khi đó, trên gia cầm có thể là các bệnh Newcastle, Gumboro, cúm gia cầm, viêm thanh khí quản truyền nhiễm, cầu trùng, E. coli, Salmonella… Tuỳ theo mức độ nghiêm trọng của bệnh mà điểm số của các chỉ tiêu được đánh giá từ 0 – 1. Chẳng hạn, ở chỉ tiêu triệu chứng thần kinh heo sau cai sữa trong vòng một năm, mục tiêu cần đạt là không, nhưng nếu heo trại vẫn có triệu chứng này nhưng với tỷ lệ rất thấp (<1%) hay thấp (<5%)… thì điểm số có thể dao động là 0,5 hay 0,3… Việc cho điểm đánh giá ở một số chỉ tiêu như trường hợp vừa nêu bị chi phối bởi yếu tố chủ quan, vì vậy người đánh giá phải là những chuyên gia thật sự để giảm thiểu những sai sót chủ quan trong quá trình đánh giá.

 

Chỉ tiêu

Mục tiêu

cần đạt

Tình trạng

tại trại

Điểm

Trại có bệnh Aujeszky

Không

 

/1

Trại có bệnh PRRS

Không

 

/1

Trại có bệnh PED trong vòng 1 năm

Không

 

/1

Trại có bệnh FMD

Không

 

/1

Trại có bệnh DTH

Không

 

/1

Trại có bệnh PCV2

Không

 

/1

Triệu chứng thần kinh heo sau cai sữa trong vòng một năm

Không

 

/1

Triệu chứng hô hấp ở heo theo mẹ và sau cai sữa

Không

 

/1

Triệu chứng viêm khớp trên heo sau cai sữa, heo choai

Không

 

/1

Triệu chứng hô hấp ở heo choai, heo thịt

< 1%

 

/1

Tổng điểm

/10

 

 

            2.2 Vệ sinh chăm sóc

 

Chỉ tiêu

Mục tiêu

cần đạt

Tình trạng

tại trại

Điểm

% viêm nhiễm đường tiết niệu

< 10 %

 

/1

Hội chứng MMA, % nái có triệu chứng

< 5 %

 

/1

Hội chứng giảm sữa ở nái

Không

 

/1

Sảy thai ở nái mang thai hơn 40 ngày (trong vòng 3 tháng)

< 1 %

 

/1

Tiêu chảy ở heo con theo mẹ

< 2/10 ổ

 

/1

Tiêu chảy sau cai sữa

Không

 

/1

Tiêu chảy ở heo hơn 30 kg

Không

 

/1

Ho ở heo nuôi thịt (3 lần trong 2 phút)

< 2% heo

 

/1

Viêm rốn heo con, sa trực tràng ở heo thịt

Không

 

/1

% nái chết ở trại trong 12 tháng cuối

< 3 %

 

/1

Tổng điểm

/10

 

 

            2.3 An toàn phòng chống dịch

 

Chỉ tiêu

Mục tiêu cần đạt

Thực tế tại trại

Điểm

Tường rào bao quanh trại

Không có chổ vào tự do

 

/1

Lưới chặn chim cửa ra vào, cửa sổ

Không có chỗ cho chim bay vào

 

/1

Phòng thay đồ vệ sinh khách

Có và sử dụng bình thường

 

/1

Biện pháp vệ sinh phòng ngừa

Ủng và quần áo riêng của trại

 

/1

Hố sát trùng

 

/1

Khu vực cách ly heo nhập đàn

Khoảng cách ít nhất 300 mét

 

/1

Đường dẫn heo xuất chuồng

 

/1

Khu vực tiêu hủy heo bệnh

Khoảng cách nhất 300 mét

 

/1

Trại lân cận

Ít hơn 2 trại trong bán kính 1 km

 

/1

Khoảng cách đến đường chính

Khoảng cách ít nhất 500 mét

 

/1

Tổng điểm

/10

 

            2.4 Chuồng trại

 

Chỉ tiêu

Mục tiêu cần đạt

Thực tế tại trại

Điểm

Sự phù hợp của chuồng đẻ

Nái có sự thoải mái

Heo con được bảo vệ

 

/1

Khu sưởi ấm cho heo con theo mẹ, ổ ngủ heo sau cai sữa, choai, thịt…

 

/1

Diện tích/ heo phù hợp theo lứa tuổi

Heo sau cai sữa  0,3 m2/heo, heo choai 0,4 – 0,5 m2/heo, heo thịt 0,6 - 0,7 m2/heo

 

/1

Chất lượng không khí

NH3 < 10 ppm, CO2 < 0,15 %

 

/1

Tốc độ gió

0,2 – 0,3 m/s, nhiều nhất có 2 vị trí không phù hợp trong 9 vị trí được kiểm tra

 

/1

Nhiệt độ chuồng nuôi

Heo nái: 18 – 20OC, heo con theo mẹ 30 – 35 OC, Heo sau cai sữa 25- 30, heo choai 20 - 25 OC, heo thịt 18 – 20 OC.

 

/1

Ẩm độ chuồng

65 – 70%

 

/1

Gió lùa, gió lồng

Không

 

/1

Nền chuồng cho phép thoát chất thải

Hạn chế tiếp xúc với chất thải

 

/1

Độ trơn trợt nền chuồng khu nái mang thai, nái đẻ

Không trơn trợt

Không gây trầy xước

 

/1

Tổng điểm

/10

 

            2.5 Quy trình, kỹ thuật chăn nuôi

 

Chỉ tiêu

Mục tiêu cần đạt

Thực tế tại trại

Điểm

Cách ly phòng chống dịch cho heo hậu bị

Có (nái và nọc)

 

/1

Vệ sinh an toàn dịch cho trại

Cùng vào - cùng ra

 

/1

Vệ sinh tiêu độc và thời gian trống chuồng sát trùng khu nái đẻ

Ít nhất 1 tuần 1 lần, trống chuồng ³ 3 ngày

 

/1

Dọn dẹp chất thải hàng ngày (cai sữa và nuôi thịt)

 

/1

Trộn lẫn bầy heo khi nuôi thịt

Không

 

/1

Số bầy heo/ chuồng sau cai sữa

£ 2

 

/1

Tuân thủ lịch tiêm phòng cho heo

 

/1

Hệ thống nước uống đảm bảo đầy đủ, chất lượng nước tốt

 

/1

Tập ăn heo con

1 tuần tuổi, khi cai sữa ăn được > 300g/heo

 

/1

Chuồng nuôi nhốt riêng heo bệnh, heo yếu, chậm lớn

 

/1

Tổng điểm

/10

 

            2.6 Người chăn nuôi

 

Chỉ tiêu

Mục tiêu cần đạt

Thực tế tại trại

Điểm

Thời gian chăm sóc, quan sát heo

> 2 giờ/ ngày

 

/1

Có kiến thức đại cương về bệnh trong thú y (bệnh lý, phòng chống bệnh…)

 

/1

Có kiến thức đại cương về chăn nuôi (dinh dưỡng, sinh lý, sinh sản, chuồng trại…)

 

/1

Tổ chức lấy mẫu xét nghiệm định kỳ các chỉ tiêu liên quan đến bệnh

 

/1

Có kiến thức bảo quản và sử dụng thuốc, vaccine

 

/1

Trang bị dụng cụ, quần áo lao động phù hợp với những nhu cầu đặc biệt trong trại

 

/1

Quan tâm và chăm lo quyền lợi của nhân viên

 

/1

Đào tạo nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho nhân viên

 

/1

Hiểu biết quản lý kinh tế (giá thu mua, đầu tư, lợi nhuận…)

 

/1

Nhân viên kỹ thuật, bác sỹ thú y

 

/1

Tổng điểm

/10

 

            Quản lý dịch bệnh theo bệnh học sinh thái là phương pháp quản lý dịch bệnh tiên tiến, được áp dụng thường xuyên ở các quốc gia có ngành chăn nuôi phát triển, năng suất và lợi nhuận cao. Đây thực ra mới chính là yếu tố quyết định đến sự thành công của chăn nuôi. Tất cả các trang trại đều có thể mua và sử dụng cùng một loại sản phẩm thú y, có chất lượng tốt như nhau, nhưng chỉ vì trình độ quản lý chênh lệch nhau mà hiệu quả quản lý dịch bệnh khác biệt nhau.

 

            Bài viết chỉ giới thiệu phương pháp quản lý dịch bệnh theo bệnh học sinh thái như một mô hình quản lý tiên tiến cần được áp dụng trong chăn nuôi hiện đại, phát triển bền vững. Tuỳ theo hoạt động chăn nuôi của từng trang trại, các chỉ tiêu đối với từng yếu tố trong bản đánh giá cần được thay đổi cho phù hợp. Điều đặc biệt quan trọng, quyết định đến sự thành công của mô hình quản lý dịch bệnh theo bệnh học sinh thái đó là sự cải tiến dựa theo kết quả đánh giá và giải pháp phù hợp. Trong thực tế, không thể cùng một lúc áp dụng được tất cả các giải pháp để khắc phục tất cả các điểm yếu, mà chỉ có thể được thực hiện từ từ, dựa theo điểm yếu quan trọng nhất của trại, ảnh hưởng lớn nhất đến sự cải thiện tại một thời điểm nào đó. Các biện pháp cải tiến cần phải có tính thực tế, khả thi, phù hợp với điều kiện của trang trại và có tính ưu tiên. Điều này quyết định sự thành công của phương pháp quản lý theo bệnh học sinh thái tại trại. Do vậy, ngoài yêu cầu về chuyên môn cao, còn đỏi hỏi người đánh giá phải là người am hiểu thực tiễn sản xuất liên quan đến hoạt động chăn nuôi, có khả năng đưa ra những giải pháp phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi.

 

            PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hải - Đại học Nông Lâm Tp. HCM. Cố vấn cao cấp Vemedim corp.

t g
0939 904 940
m